Sign up

Thơ viết cho em

Chung, thơ Như Đồng — Viết bởi nhudong @ 22:38
Thơ viết cho em                                      
                                          Bài thứ 10
  

Qua một thời điêu đứng
Ta là kẻ thảm bại
Qua một miền gian nan
Ta là kẻ đơn độc

Bên kia là lãng quên, bên kia là vực thẳm
Sẽ chẳng còn khổ đau và nghiệt ngã
Sẽ chẳng còn tội lỗi và thứ tha
Sẽ chẳng còn em và chẳng còn ta.

 
Sẽ chẳng còn gì mà đời cứ day dứt mãi
Sẽ chẳng còn gì mà đời cứ khổ vì nhau
Giọt nước mắt một đời người rơi xuống...
Tan thành sương khói tan thành hư không . 

1995
  


Thơ Thảo phương - Một đóa hoa vàng

Chung, thơ Như Đồng, Thơ Thảo Phương — Viết bởi nhudong @ 22:20

thơ Thảo Phương
                         Một đóa hoa vàng

Cánh hoa vàng từng đốt cháy tán cây

Nay lả tả theo gió trời rơi nhẹ

Nửa chiều nắng cũng nghiêng dần

                                                      rất khẽ...

Rót sắc vàng óng mượt xuống quanh đây

Ơi cái sắc vàng đắm đuối ngất ngây

Sao thanh nhẹ mà cũng mong manh thế

Dẫu đã cháy lên như điều - có - thể

Mà vẫn lụi tàn theo thời gian...

Ta giữ được cho ta một đoá hoa vàng

Sắc gợi sắc lại bừng lên hoa mới

Phải tình yêu...

                       qua thương đau rồi tha thiết gọi?

Ánh vàng lại lung linh mắt em.

Hãy ngủ nghe em...

Màn đêm xuống êm đềm...

                                              
 Nơi xuất bản: NXB Lao động - 2001  

Kỷ luật lãnh đạo báo Đại Đoàn Kết


   

 


Thơ Thảo Phương

Chung, Thơ Thảo Phương — Viết bởi nhudong @ 23:33

Thơ Thảo phương

thương tiếc chị Thảo Phương. Có ai trên bến cuộc đời, người qua bên ấy đấy là chị tôi.

Không đề gửi mùa đông


Dường như ai đi ngang cửa,

Hay là ngọn gió mải chơi ?
 

Chút nắng vàng thu se nhẹ,

Chiều nay,

Cũng bỏ ta rồi.

Làm sao về được mùa đông ?

Chiều thu - cây cầu…

Đã gãy.

Lá vàng chìm bến thời gian,

Đàn cá - im lìm - không quẫy.

Ừ, thôi…

Mình ra khép cửa,

Vờ như mùa đông đang về!


Những người đồng hương

thơ Như Đồng — Viết bởi nhudong @ 21:31

Thơ Như Đồng
Những người đồng hương  

Những người đồng hương
Quê nhà túng bấn nên làm ăn xa
Đường xa mệt mỏi , phố xá lần dò
Chiều nay  phiêu dạt đến nhà ta đây . 

Những thân phận lỡ làng
Những cuộc đời chắp vá
Hiểu biết không cần đến nơi
Nghề nghiệp không cần đến chốn
Vừa là ghế vừa là mâm
Thênh thang ngồi giữa nền nhà lai rai . 

Sông hiền biển lặng
Tưởng là bặt tăm
Nào đâu tông tích đi theo suốt đời . 

Ta - con đò nơi dòng sông
Ta - lưỡi cày nơi gốc rạ
Ta - vách đá chơ vơ của núi đồi hoang phế
Một thời xưa tang tóc của núi sông .

Trời xanh ơi cứ cao chi cao quá
Và trần thế cứ lô nhô không hết những nỗi buồn . 

Rượu đã cạn dần nơi đáy túi
Cơn say đã tỉnh lại rồi
Ta còn câu thơ ...
Đọc với quê hương với bạn bè . 

1998
   

VN tụt hạng trong bản nhận định về quyền tự do báo chí năm 2008  
 


Hoa bên mộ

Chung, thơ Như Đồng — Viết bởi nhudong @ 20:18



Ta - kẻ bỏ trốn bởi những cuộc đấu súng
Khuôn mặt ngày nào giờ chứa những ưu tư
Chiếc áo ngày nào của bao niềm danh dự
Theo thời gian còn lại tấm lưng trần .  

Ta về hái dành tặng em trái sim những trưa hè đói lả
Ta về bẻ những nhành bông trang cắm bên phần mộ của cha
Những nhành bông trang bên những nấm mồ hoang xứ sở
Tháng năm ầu ơ non nước những thăng trầm .  

Ta về quê nội đồi lau trắng bãi
Sương mong manh quanh tóc nội ngày xưa
Chiều đã tắt , một đời người đã tắt
Bến trầm luân hoang vắng lối đi về . 

Ta về quê ngoại bờ sông dốc đứng
Mái nhà ta hoang phế còn đây
Dòng sông trong xanh dòng sông thầm thì
Quá khứ xa xôi gò đống cũng đìu hiu . 

Ta về thăm mẹ hoàng hôn kín phủ
Ngọn đèn xưa leo lét cứ chờ ta
Dáng cút côi , vòm lưng còng
Tóc mẹ bạc rồi dòng sông cũng rưng rưng . 

Ta về tìm lại ta
Nhìn vầng trăng khơi dậy những thương yêu
Ta về cắm những nhành hoa bên mộ chí
Cho linh hồn ta và cho những núi đồi . 

2/2000



Xử có định hướng
Truyền thông Việt Nam được chỉ đạo trước vụ xử hai nhà báo


Mẹ - Tôi - Em và Tổ Quốc .

Chung, thơ Như Đồng — Viết bởi nhudong @ 20:18


Mẹ sinh ra tôi
Mẹ nghèo như nơi sinh ra mẹ . 

Mẹ - Đã qua những non cao của hận thù , đã qua những dòng sông nước mắt .
Mẹ - Nơi tích lủy sự đau thương, bảo tàng của sự mất mát .
Mẹ nuôi tôi
Trong xác xơ của mồ côi, trong lầm than của góa bụa .
Tôi lớn khôn Trong què quặt của nhân tâm, trong tật nguyền của đạo đức .

Và tôi ...
Công dân của một nước nghèo đứa con của một miền đói khổ .
Cả tuổi thơ lớn lên không thấy những mặt trời
Đất rợp tối bởi những bóng râm các thần tượng .
Tôi lưu lạc
Mang nỗi buồn xứ sở
Đời tôi chắp vá , đời tôi cút côi
Tôi đi trần trụi giữa đời tôi đi .

Và em ...
Em trong trắng
Tôi dành dụm nhưng chỉ mua cho em một đôi giày bé bỏng
Giày của tôi mong manh mà đường đời thì chênh vênh gai gốc.
Em ngã rồi em ơi .

Và Tổ Quốc
Tôi học những điều thiêng liêng về Tổ Quốc
Tổ Quốc nghèo
Bên đời tủi nhục em có thương Tổ Quốc
Thần tượng thì cao siêu ngôi nhà thì đổ nát .
Tôi qua những phố phường
Và ...
Một chiều kia tôi chết bên đường
Có chăng chỉ mình em khóc tôi .

1994
   


Con đường tư tưởng của Trương Tửu và nhóm Hàn Thuyên



Bài thơ cho Tổ Quốc tôi - Bài thứ 3

Thơ Như Đồng
Bài thơ cho Tổ Quốc  
                                                          
 Bài thứ 3 

Hai mươi năm đã im tiếng súng
Hai mươi năm vết nứt trên tường nhà chưa xóa được
Hai mươi năm Mẹ Âu Cơ nuôi đàn con thơ dại
Cha Lạc Long Quân đi mãi không về. 


Hai muơi năm Mẹ chờ những đứa con nằm lại ở Trường Sơn hoặc trênvành đai chiến lược
Hai mươi năm Mẹ chờ những con tàu đắm ở ngoài khơi và những đứa con lạc loài Tổ Quốc
Hai mươi năm thịt xương những anh hùng đã thành bùn thành đất
Hai mươi năm mẹ khổ đau nhiều , Mẹ Việt Nam .


Hai mươi năm ta trở thành Chữ Đồng Tử
Tìm đâu đây di chỉ của cha ta
Dưới lòng đất sâu các vua Hùng yên nghỉ
Những nàng Tiên Dung lưu lạc phương trời.


Ta góp nhặt một gia tài hoang phế
Những Huyền Trân ra đi những anh hùng rơi lệ
Ta chắp thành câu thơ.
 


Ta chờ em bên non nước
Ta chờ em tuổi trẻ đã tàn phai
Ta chờ em và em đi mãi.

Ta về bên những chiến công vĩ đại
Chạm tay lên những tượng đài
Ta thành kẻ vu vơ
Hát bài ca trái tim. 

1995


Ấn tượng : Trần Bạch Đằng 4

Chung, Ấn tượng : Trần Bạch Đằng — Viết bởi nhudong @ 07:21
 

Tháng 7 năm 1992 tôi vào Sài Gòn , tôi mang rất nhiều tranh và quyết tâm ở lại thành phố này, hai tháng sau tôi mang bản thảo tập thơ " Khi ta phát hiện ra mình " đến nộp cho nhà xuất bản Trẻ, một nhà xuất bản thuộc sự quản lý của thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh , nhà xuất bản này được coi như một công cụ tuyên truyền của đảng cộng sản, từ "công cụ" này là lời trong nguyên văn từ một lá thư của thành ủy được in thành một tấm ba nô lớn dựng ở tiền sảnh nhà xuất bản.
     Tôi không quen biết ai ở nhà xuất bản Trẻ, người tiếp tôi là anh Chinh Văn, một nhà thơ dáng vóc nhỏ bé nhưng gan dạ, anh Chinh Văn là dân biệt động thành và ở tù Côn Đảo tám năm đến ngày 30 tháng tư năm 1975. Anh Chinh Văn trả lời bản thảo của tôi là rất ấn tượng nhưng có nhiều chỗ còn vụng, và anh Chinh Văn nói rằng đã đưa vào kế hoạch của nhà xuất bản. 

     Tập thơ lần lửa ba lần kế hoạch tháng vẫn chưa có giấy phép. Anh Chinh Văn nói rằng trước đây anh đã nỗi khùng đánh anh Hoàng Phủ Ngọc Phan khi anh là tổng biên tập, nên bị làm khó dễ, hơi lâu một chút chứ không sao đâu.

     Người bạn nữ họa sĩ đồng nghiệp với tôi trong xưởng họa của Nhật là Hoài Anh, Hoài Anh là người bà con cùng họ với anh Phan. Hoài Anh giúp tôi đến gặp anh Phan, một tuần sau thì tôi nhận được giấy phép tập thơ. Người bạn hồn nhiên trong sáng giúp tôi qua được cửa ải này.

     Năm 1996 tôi là người viết báo tự do, những bài báo của tôi được đăng trên các tờ Sài Gòn giải phóng, Thanh niên, kinh tế Sài gòn , ...  . giờ đây tôi thấy một cái gì đó đang gây khó khăn cho tôi. Tôi đứng trước nguy cơ thất nghiệp và bị đánh bật khỏi Sài Gòn. Anh Hoàng Phủ Ngọc Phan có đặt tôi vẽ một bức tranh và trả tiền trước cho tôi, tôi biết ơn anh Phan về thiện ý này. Có những người anh, người bạn làm trong các báo khi gặp tôi có người cho tôi tiền và bảo tôi trốn đi. Không có lệnh truy nã nào với tôi, nhưng tôi trốn đi vì những nguy hiểm có thể sẽ xảy ra với tôi. Tôi một nhà thơ giữa phố chợ Sài Gòn trở thành một kẻ ăn xin lòng tốt của bạn bè.
   Với số vốn ít ỏi của gia đình tôi mua một lô đất cất một ngôi nhà tạm bợ ở Gò Vấp, tôi đưa mẹ từ Bình Định vào sống với tôi , và tôi cưới vợ. Sau này vợ tôi về sống với tôi mới biết tôi là một nhà thơ.
    Khi cu Đức con trai đầu của tôi hơn một tuổi, tôi viết cho Trần Bạch Đằng một lá thư mà đằng sau những lời lẽ là một ngụ ý tỏ sự biết ơn rằng ông đã không để xảy ra một việc gì bức hại đến tôi.
     Một ngày của năm 2000, tôi đến gặp anh Hoàng Phủ Ngọc Phan và đề nghị xuất bản tập thơ của tôi. Vì rằng anh Chinh Văn lúc này đã về hưu nên anh Hoàng Phủ Ngọc Phan trực tiếp nhận bản thảo và biên tập.
     Nửa tháng sau thì tập thơ có giấy phép, anh Phan đưa bản thảo tập thơ của tôi mà anh đã biên tập và anh ký tên trên từng trang bản thảo. Tôi đọc lại bản thảo và sửa chữa những chỗ có thể gây sốc mà  anh Phan đã đánh dấu nhưng phải truyền tải được suy nghĩ của mình.Trong tập thơ nộp cho nhà xuất bản tôi cũng đã gác lại một số bài đề cập những vấn đề nóng của đất nước.
    Sau khi đã hoàn tất công việc biên tập tập thơ lấy tên là: " Thơ của núi đồi và dòng sông ". Anh Phan nói với tôi rằng sẽ đề nghị nhà văn Trần Bạch Đằng viết đề tựa tập thơ. Tôi hiểu rằng anh Phan chỉ là người truyền đạt một thành ý nữa của Trần Bạch Đằng đối với tôi.
    Đây là một ân huệ quá lớn đối với một nhà thơ trẻ như tôi. Và tôi biết mình sẽ được những gì và mất những gì. Ở đời... đừng vội nhận những gì chưa thuộc về mình và cũng đừng vứt bỏ những gì sẽ thuộc về mình, đó là lẽ sống của người biết mình và biết tôn trọng mình.
    Tôi nhớ hai câu thơ của nhà thơ Trần Dần:
                   Thưở ấy bầu trời thấp
                    Cánh chim cũng hèn hạ.
    ( còn nữa)

    

   

    

    

   
   

    

    
    


Bài thơ cho Tổ Quốc tôi - Bài thứ hai

Chung — Viết bởi nhudong @ 20:42
Bài thơ cho Tổ Quốc tôi
                                                                      Bài thứ 2 

Hỡi những kẻ còn sót lại qua những năm dài chiến tranh
Hỡi những đứa trẻ mồ côi
Dưới vết trượt của thần thánh
Dưới vực sâu đau khổ của nhân dân
Lịch sử...
Thẩm định của giá trị.


Hai mươi năm
Hận thù đã phôi pha
Và những chứng nhân chờ ngày phán xét .


Ta không nhìn thấy nhau qua những non cao hận thù
Ta không nhìn thấy nhau qua những vực sâu mất mát .


Bên kia dãy núi mờ xa
Hỡi con chim lạc loài kêu tiếng kêu oan khốc
Là quê hương tôi .
Hỡi người mẹ khổ đau ngồi ôm tượng đài hóa đá
Là tổ quốc tôi.

1995


Bài thơ cho Tổ Quốc tôi - Bài thứ nhất

Chung, Bài thơ cho Tổ Quốc tôi — Viết bởi nhudong @ 00:30
Bài thơ cho Tổ Quốc tôi
                                                        Bài thứ nhất . 

Tôi là công dân của một nước nghèo
Là chàng trai của một nước nghèo 
 
Bên kia sự khổ đau và nghèo nàn là Tổ Quốc tôi
Con đường dài của chiến tranh và hận thù là dân tộc tôi .

Núi đồi mênh mông xơ xác là mồ của cha tôi
Nước xanh mặn mòi sông biển là nước mắt của mẹ tôi . 
 

Tổ Quốc tôi
Có một thời ...
Người dũng cảm bị nghiền nát bởi chiến tranh .

Dân tộc tôi  
Một dân tộc anh hùng một dân tộc nghèo khổ
Ba mươi năm qua Mẹ buồn đau về một cuộc chiến tranh
Một cuộc chiến tranh được tiến hành bằng xương máu của người Việt Nam .


Chiến tranh đi qua người ta người ta xây dựng tượng đài cho Mẹ từ những vỏ đạn của chiến tranh trên khắp miền đất nước .
Lòng Mẹ là những giọt nước mắt của quê hương ,là những vành khăn tang của xứ sở .
Chiến tranh đã thành dĩ vãng
Lòng Mẹ vẫn còn đau .
 


Anh chờ em
Dưới những cao ốc xa hoa
Sương thấm ướt xác thân anh lạnh buốt
Anh viết ra thành những câu thơ
Để mai kia
Nhớ mãi một thời
Từ nỗi đau của một nước nghèo và sự trắng trong của người đẹp . 

1995 .    
  

«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12  Sau»

Powered by vnWeblogs