Tháng 7 năm 1992 tôi vào Sài Gòn , tôi mang rất nhiều tranh và quyết tâm ở lại thành phố này, hai tháng sau tôi mang bản thảo tập thơ " Khi ta phát hiện ra mình " đến nộp cho nhà xuất bản Trẻ, một nhà xuất bản thuộc sự quản lý của thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh , nhà xuất bản này được coi như một công cụ tuyên truyền của đảng cộng sản, từ "công cụ" này là lời trong nguyên văn từ một lá thư của thành ủy được in thành một tấm ba nô lớn dựng ở tiền sảnh nhà xuất bản.
Tôi không quen biết ai ở nhà xuất bản Trẻ, người tiếp tôi là anh Chinh Văn, một nhà thơ dáng vóc nhỏ bé nhưng gan dạ, anh Chinh Văn là dân biệt động thành và ở tù Côn Đảo tám năm đến ngày 30 tháng tư năm 1975. Anh Chinh Văn trả lời bản thảo của tôi là rất ấn tượng nhưng có nhiều chỗ còn vụng, và anh Chinh Văn nói rằng đã đưa vào kế hoạch của nhà xuất bản.
Tập thơ lần lửa ba lần kế hoạch tháng vẫn chưa có giấy phép. Anh Chinh Văn nói rằng trước đây anh đã nỗi khùng đánh anh Hoàng Phủ Ngọc Phan khi anh là tổng biên tập, nên bị làm khó dễ, hơi lâu một chút chứ không sao đâu.
Người bạn nữ họa sĩ đồng nghiệp với tôi trong xưởng họa của Nhật là Hoài Anh, Hoài Anh là người bà con cùng họ với anh Phan. Hoài Anh giúp tôi đến gặp anh Phan, một tuần sau thì tôi nhận được giấy phép tập thơ. Người bạn hồn nhiên trong sáng giúp tôi qua được cửa ải này.
Năm 1996 tôi là người viết báo tự do, những bài báo của tôi được đăng trên các tờ Sài Gòn giải phóng, Thanh niên, kinh tế Sài gòn , ... . giờ đây tôi thấy một cái gì đó đang gây khó khăn cho tôi. Tôi đứng trước nguy cơ thất nghiệp và bị đánh bật khỏi Sài Gòn. Anh Hoàng Phủ Ngọc Phan có đặt tôi vẽ một bức tranh và trả tiền trước cho tôi, tôi biết ơn anh Phan về thiện ý này. Có những người anh, người bạn làm trong các báo khi gặp tôi có người cho tôi tiền và bảo tôi trốn đi. Không có lệnh truy nã nào với tôi, nhưng tôi trốn đi vì những nguy hiểm có thể sẽ xảy ra với tôi. Tôi một nhà thơ giữa phố chợ Sài Gòn trở thành một kẻ ăn xin lòng tốt của bạn bè.
Với số vốn ít ỏi của gia đình tôi mua một lô đất cất một ngôi nhà tạm bợ ở Gò Vấp, tôi đưa mẹ từ Bình Định vào sống với tôi , và tôi cưới vợ. Sau này vợ tôi về sống với tôi mới biết tôi là một nhà thơ.
Khi cu Đức con trai đầu của tôi hơn một tuổi, tôi viết cho Trần Bạch Đằng một lá thư mà đằng sau những lời lẽ là một ngụ ý tỏ sự biết ơn rằng ông đã không để xảy ra một việc gì bức hại đến tôi.
Một ngày của năm 2000, tôi đến gặp anh Hoàng Phủ Ngọc Phan và đề nghị xuất bản tập thơ của tôi. Vì rằng anh Chinh Văn lúc này đã về hưu nên anh Hoàng Phủ Ngọc Phan trực tiếp nhận bản thảo và biên tập.
Nửa tháng sau thì tập thơ có giấy phép, anh Phan đưa bản thảo tập thơ của tôi mà anh đã biên tập và anh ký tên trên từng trang bản thảo. Tôi đọc lại bản thảo và sửa chữa những chỗ có thể gây sốc mà anh Phan đã đánh dấu nhưng phải truyền tải được suy nghĩ của mình.Trong tập thơ nộp cho nhà xuất bản tôi cũng đã gác lại một số bài đề cập những vấn đề nóng của đất nước.
Sau khi đã hoàn tất công việc biên tập tập thơ lấy tên là: " Thơ của núi đồi và dòng sông ". Anh Phan nói với tôi rằng sẽ đề nghị nhà văn Trần Bạch Đằng viết đề tựa tập thơ. Tôi hiểu rằng anh Phan chỉ là người truyền đạt một thành ý nữa của Trần Bạch Đằng đối với tôi.
Đây là một ân huệ quá lớn đối với một nhà thơ trẻ như tôi. Và tôi biết mình sẽ được những gì và mất những gì. Ở đời... đừng vội nhận những gì chưa thuộc về mình và cũng đừng vứt bỏ những gì sẽ thuộc về mình, đó là lẽ sống của người biết mình và biết tôn trọng mình.
Tôi nhớ hai câu thơ của nhà thơ Trần Dần:
Thưở ấy bầu trời thấp
Cánh chim cũng hèn hạ.
( còn nữa)